Tình hình thị trường
Trong tuần từ ngày 19 đến 23 tháng 01 năm 2026 thị trường thép Trung Quốc diễn biến như sau:
Theo cuộc khảo sát mới nhất của các chuyên gia, giá các sản phẩm thép chính của Trung Quốc, bao gồm thép thanh cốt, phôi vuông và thép cuộn cán nóng (HRC), đã giảm trong giai đoạn từ ngày 19 đến 23 tháng 1 do chính sách hỗ trợ giá làm suy yếu tâm lý và nhu cầu tiêu thụ tiếp tục giảm mạnh hơn do các đợt rét đậm trên khắp lãnh thổ Trung Quốc khiến cho các dự án ngoài trời ngừng trệ.
Cụ thể, theo khảo sát hàng tuần, giá thép cây tiêu chuẩn HRB400E đường kính 20mm tại Trung Quốc vào ngày 23/01/2026 giảm mạnh 30 Nhân dân tệ/tấn so với cuối tuần trước, xuống mức giá 3.321 Nhân dân tệ/tấn (477USD/tấn), đã bao gồm 13% VAT. Đây là mức giá cao nhất trong 4,5 tháng. Giá thép thanh trên thị trường phái sinh cũng suy yếu, với hợp đồng được giao dịch nhiều nhất trên Sở Giao dịch Hàng hóa Tương lai Thượng Hải.
Khảo sát cho thấy, sản lượng gang nóng tại các nhà máy sản xuất thép liên hoàn nhìn chung ổn định trong tuần trước, với một số lò cao (BF) đã hoạt động trở lại sau khi bảo dưỡng. Tỷ lệ sử dụng công suất trung bình của các lò cao trong số 247 nhà máy sản xuất thép liên hoàn trên lãnh thổ Trung Quốc được theo dõi thường xuyên đã tăng nhẹ 0,03 % so với tuần trước, Tuy nhiên, giá quặng sắt nhập khẩu của Trung Quốc tiếp tục giảm trên cả thị trường giao ngay và thị trường tương lai trong tuần qua, do sự phục hồi chậm lại của sản lượng thép tại các nhà máy thép. Giá quặng sắt 62% Fe nhập khẩu từ Úc (CFR tại cảng Thanh Đảo) ngày 23/1 đã giảm 1,15 USD/tấn so tuần trước, về mức 105,4 USD/tấn. Giá quặng giao tại các kho ven cảng cũng giảm nhẹ 15 Nhân dân tệ/tấn so với tuần trước, về mức 807 Nhân dân tệ/tấn (117 USD/tấn), đã bao gồm 13% VAT.
Ngoài ra, khảo sát của các chuyên gia cho thấy, lượng than mỡ luyện kim đã qua chế biến tồn kho tại 523 mỏ than luyện kim của Trung Quốc - bao gồm cả khối lượng tương đương được quy đổi từ lượng than thô hiện có - đã tăng 1,3% so với tuần trước đó, đạt tổng cộng 5,55 triệu tấn vào cuối tuần trước. Đây mức tồn kho cao nhất trong vòng sáu tháng qua. Giá than mỡ luyện kim tổng hợp ngày 23/01 tiếp tục tăng tuy chỉ tăng ở mức 13 Nhân dân tệ/tấn so với tuần trước, lên giá 1305 Nhân dân tệ/tấn (đã bao gồm VAT). Một chuyên gia phân tích tại Thượng Hải cho biết: “các yếu tố cơ bản của thị trường than cốc Trung Quốc, gần đây đã cho thấy dấu hiệu suy yếu tâm lý trong tuần qua, khi sản lượng khai thác tăng tốc trong khi hoạt động mua bán chậm lại. Điều này đã làm giảm niềm tin thị trường, mặc dù hầu hết các nhà tham gia không kỳ vọng giá sẽ giảm mạnh trong ngắn hạn…”.
Về giá thép phế liệu, giá thép phế liệu tại Trung Quốc đã điều chỉnh giảm sau quá trình tăng giá. Theo khảo sát ngày 23/01, giá thép phế liệu tổng hợp của Trung Quốc đã giảm nhẹ 5 Nhân dân tệ/tấn (0,7 USD/tấn) so với tuần trước, về mức 2.414 Nhân dân tệ/tấn (bao gồm VAT). Một quan sát viên tại Thượng Hải cho biết: “giá thép phế liệu tại Trung Quốc đã giảm nhẹ 0,1% so với tuần trước, song song với sự giảm giá của các sản phẩm sắt thép khác, mặc dù nhu cầu về nguyên liệu phế liệu từ các nhà sản xuất thép trong nước đã tăng lên....”
Nhận định thị trường
1. Tâm lý thị trường và chính sách:
Theo số liệu mới nhất do Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) công bố ngày 14 tháng 1, tổng giá trị thương mại quốc tế của Trung Quốc đạt 45,47 nghìn tỷ nhân dân tệ (6,51 nghìn tỷ đô la Mỹ) vào năm 2025, tăng 3,8% so với năm 2024 và đạt mức cao kỷ lục mọi thời đại. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, giá trị xuất khẩu tăng 6,1% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 26,99 nghìn tỷ nhân dân tệ, trong khi nhập khẩu tăng nhẹ 0,5% lên 18,48 nghìn tỷ nhân dân tệ, tạo ra thặng dư thương mại 8,51 nghìn tỷ nhân dân tệ. Số liệu của GACC còn cho biết các quốc gia trong khu vực ASEAN vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong năm ngoái, với giá trị thương mại của khu vực tăng 8% so với năm trước, đạt 7,55 nghìn tỷ nhân dân tệ. Cũng theo số liệu của GACC, Liên minh châu Âu (EU), đối tác thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc, đã ghi nhận mức tăng 6% về giá trị thương mại quốc tế so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 5,93 nghìn tỷ nhân dân tệ. Các số liệu của GACC còn cho biết thêm, giá trị thương mại của các nước tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường với Trung Quốc đạt 23,6 nghìn tỷ nhân dân tệ vào năm 2025, tăng 6,3% so với năm trước và chiếm 51,9% tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc. Trong số các sản phẩm chính mà Trung Quốc xuất khẩu ra nước ngoài vào năm 2025, giá trị máy móc, thiết bị điện và điện tử tăng 8% so với năm trước, đạt 16,47 nghìn tỷ nhân dân tệ, chiếm khoảng 61% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Theo số liệu thống kê của Hải quan, năm ngoái, lượng nhập khẩu quặng sắt và dầu thô của Trung Quốc tăng lần lượt 1,8% và 4,4%, nhưng giá trị nhập khẩu tính bằng USD lại giảm 7,1% và 8,8% so với năm trước.
2. Thép thành phẩm
3. Nguyên liệu thô
Việt Cường